Friday, December 17, 2010

132 bộ hài cốt gói trong poncho. Tiếc thay, trong số này chỉ có 7 thẻ bài và một căn cước

Nguồn Người Việt Online
HUẾ (NV) - Vào cuối tháng 3 năm 1975, trong khi quân đội VNCH rút khỏi Vùng I Chiến Thuật, chúng ta đã để lại trên chiến trường, nhất là ở các bãi biển Thuận An, thuộc tỉnh Thừa Thiên hàng nghìn chiến sĩ, tuy thiện chiến, nhưng cuối cùng đành phải buông súng và chết trong tức tưởi.


Lăng trong khu nghĩa trang mới, nơi cải táng 132 hài cốt tử sĩ VNCH thiệt mạng trong những ngày cuối cùng cuộc chiến, tháng 3, 1975, ở Thừa Thiên.
Tại thôn An Dương, thuộc quận Phú Vang Huế, một địa điểm chỉ cách với bờ biển Thuận An 2km về phía Nam, cuối tháng 3 năm 1975, dân chúng sau cuộc chiến đã chôn cất rất nhiều chiến sĩ của chúng ta ngay trên bãi biển. Với sự mong mỏi của đồng bào làng An Dương, nhất là những người đã tự tay chôn cất những người tử nạn, từ bao nhiêu năm nay, là làm sao để cải táng và di dời những hài cốt xiêu lạc này vào một khu đất khô ráo xa bờ biển, vì sau hơn 35 năm, nước biển đã lấn chiếm đất liền và nhất là trận bão lụt năm 1999 đã cuốn một số hài cốt ra khơi.
Cho mãi đến tháng 7 năm nay (2010), với sự trợ giúp tài chánh của đồng bào hải ngoại, Hoa Kỳ và Canada, và được sự đồng ý của chính quyền địa phương, đồng bào thôn An Dương đã có phương tiện di dời hài cốt của các tử sĩ từ ngoài bờ biển vào đất liền với mộ phần khang trang, có bia mộ và nhà lăng.
Trong dịp này đồng bào thôn An Dương chỉ sưu tầm được 132 bộ hài cốt gói trong poncho. Tiếc thay, trong số này chỉ có 7 thẻ bài và một căn cước của những người đã hy sinh. Căn cứ vào số quan, hầu hết các từ sĩ chết ở tuổi 20, 22 vào tháng 3 năm 1975.
Số 132 bộ hài cốt này được cải táng, mỗi hài cốt được đặt vào một quan tài riêng, loại quan tài nhỏ gọi là cách tiểu hay cái quách. Mỗi mộ phần có đánh dấu nhưng chỉ có hài cốt có thẻ bài là có tên.
Trong khu đất mới, 132 mộ phần này được chia làm 4 khu, ở giữa là lăng và bia thờ.
Hiện nay việc cải táng và xây lăng mộ đã hoàn tất tốt đẹp, đồng bào thôn An Dương có ước nguyện là tổ chức một lễ trai đàn chẩn tế cho chư vị âm linh, cô hồn trong cuộc chiến vừa qua, nhất là những tử sĩ đã bỏ mình tại bãi biển An Dương.
Người đã có tấm lòng nhân ái, vận động từ bà con, thân hữu tại hải ngoại để có đủ số tiền $8,000.00 để cải táng và xây lăng mộ là chị Tố Thuận là người sinh sống từ nhỏ tại làng An Dương, nơi có phần mộ tử sĩ và đã chứng kiến qua các biến cố tang tóc vào cuối tháng 3 năm 1075 tại Thuận An. Chị Thuận hiện nay cư ngụ tại Sacramento, là một quả phụ VNCH. Chồng chị là anh Lê Văn Hội, một hạ sĩ quan Quân Cảnh thuộc TTHL Ðống Ða, Huế đã mất tích vào những ngày cuối cuộc chiến (tháng 3 năm 1975) tại bãi biển Ðà Nẵng.


Bia thờ trong khu nghĩa trang nơi vừa cải táng 132 tử sĩ VNCH.
Chúng tôi xin gởi đến đồng bào hải ngoại danh sách 8 tử sĩ đã bỏ mình tại bãi biển Thuận An thuộc thôn An Dương, Huế vào những ngày cuối tháng 3 năm 1975 với hy vọng rằng có gia đình tìm được con, em, chồng hay bạn bè qua những tấm thẻ bài này.
Danh sách các quân nhân VNCH tử trận tại bãi biển Thuận An - Huế vào tháng 3-1975 (đã tìm thấy thẻ bài).
Căn cứ vào số quân trên thẻ bài, chúng tôi xin ghi lại năm sinh của các tử sĩ để gia đình dễ nhận ra thân nhân của mình.
1. Nguyễn Văn Vân sinh năm 1954 SQ:74/144-016 Loại máu O.
2. Tiếc Dục sinh năm 1955. SQ:75/145-256 Loại máu: A.
3. Trần Ngọc Anh sinh năm 1954 SQ: 74/108- 532 Loại máu: O.
4. Lê Văn Phương sinh năm 1953 SQ: 73/156-263 Loại máu : O.
5. Trần Văn Ðược sinh năm 1954 SQ: 74/164- 292 Loại máu; A+B.
6. Ðinh Văn Kiêm sinh năm 1943 SQ: 63/212-486 Loại máu: O.
7. Ngô Ðắc Hùng sinh năm 1955 SQ: 75/ 206-046 Loại máu O.
8. Nguyễn Văn Dục sinh năm 1937 SQ: 57/000-706 Loại máu: O.
9. Hồ Thành Bảy sinh ngày 20/1/1931 tại Phong Dinh.
Cha: Hồ Văn Miên; Mẹ: Nguyễn Thị Chon.
Ðịa chỉ: Xã Tân Bình, huyện Thủ Ðức, tỉnh Gia Ðịnh.
Hiện nay vì sự an toàn của quý ân nhân hiện nay đang còn ở tại quê nhà, mọi sự liên lạc, xin gọi cho chị Tố Thuận ở số (916) 273-2989 để được hướng dẫn bốc mộ nếu có thân nhân trong số có thẻ bài, cũng như để rõ thêm chi tiết, hay gọi cho Huy Phương (949) 241-0488 là người đang giữ các thẻ bài của quý vị tử sĩ.
Nếu cần biết thêm chi tiết của cuộc cải táng (có chiếu đoạn phim bốc mộ), xin theo dõi buổi buổi nói chuyện của chúng tôi với chị Tố Thuận trong chương trình Huynh Ðệ Chi Binh của đài truyền hình SBTN, vào ngày Thứ Năm 2 tháng 12 vào lúc 1:00PM và Thứ Bảy 4 tháng 12 vào lúc 10:00PM (giờ California).

WESTMINSTER - Một quả phụ Việt Nam Cộng Hòa, biệt tin chồng trong suốt 35 năm từ những ngày cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam, nay, nhận được tin tức từ nước ngoài truyền về, người quả phụ ấy tìm lại được mộ chồng, chỉ cách căn nhà đang ở có... 15 km.


Lăng mộ trong khu nghĩa trang mới, nơi người dân An Dương, Phú Vang, Huế, cải táng 132 hài cốt tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng trong những ngày cuối cùng cuộc chiến, tháng 3, 1975, ở Thừa Thiên. (Hình: Huy Phương cung cấp)
Câu chuyện bắt đầu từ tin tức về việc người dân An Dương, quận Phú Vang, Huế, gần đây cải táng 132 hài cốt tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa hy sinh trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, tháng 3, 1975.
... 35 năm trước
Sáng ngày 21 tháng 3, 1975, trong cơn hỗn loạn của thành phố Huế, khi quân đội rút về phía Nam và dân chúng gánh gồng chạy loạn, bà Lê Thị Tịnh đem các con chạy vào Ðà Nẵng. Ngang qua Dạ Lê, bà ghé thăm người chồng, Thượng Sĩ Ðinh Văn Kiếm, trưởng Tổng Ðài Siêu Tần Số, thuộc Tiểu Ðoàn I Truyền Tin, Sư Ðoàn I Bộ Binh (SÐ 1 BB).
Tại đây, Thượng Sĩ Kiếm nói với vợ, hãy “yên tâm đem các con đi trước, anh sẽ theo đơn vị đi sau.”
Họ chia tay, không biết rằng, đó là lần cuối cùng gặp mặt...
Sau ngày Sài Gòn thất thủ, nhiều người chạy giặc vào Sài Gòn đã bắt đầu trở về. Bà Tịnh vẫn biệt tin chồng. Qua nghe ngóng tin tức, bà biết “nhiều anh em Sư Ðoàn 1BB bỏ xác tại bãi biển Thuận An trong lúc chờ tàu vào cứu nạn.” Nghe theo lời khuyên, bà Tịnh nhiều lần cố tìm về bãi biển này để dò la tin tức.
Mấy ngày đầu, đường sá bị phong tỏa. Thời gian sau, dấu vết nhạt dần, rồi không còn nữa. Không ai dám hé môi tiết lộ một lời.
Lòng bà Tịnh nhen nhúm chỉ một niềm hy vọng: “Biết đâu anh lại có cơ hội lên tàu di tản sang Mỹ.”
Bà Tịnh chờ đợi!
Một năm, rồi 2 năm, rồi 5 năm trôi qua, tin chồng vẫn biệt mù.
Bà Tịnh, như hầu hết những người vợ lính cam phận, tần tảo nuôi bốn đứa con trai và một con gái khôn lớn. Nỗi buồn nguôi ngoai cùng ngày tháng.
Người con trai đầu của bà Tịnh, tên Khuê, năm 1980, mới 12 tuổi, đã ra đời vất vả kiếm cơm, với một chiếc bình nhôm và cái ca nhựa, bán nước trà theo những chuyến xe lửa Bắc-Nam mỗi ngày ghé qua ga Huế hay bên chợ Ðông Ba.
Một buổi tối, bà Tịnh không thấy con về. Hai ngày sau, bà lên ga Huế, ra chợ Ðông Ba, hỏi thăm đám bạn bè của con. Không một tin tức.
“Thằng Khuê” mất biệt như cha nó 5 năm về trước, không một dấu vết. Bà Tịnh không biết trình báo với ai, cũng chẳng biết phải đi đâu để tìm con. “Thằng Khuê,” còn sống hay đã chết, mất xác nơi đâu?
Bỗng đâu tin tức tràn về
Ba mươi lăm năm sau cuộc chiến là 35 năm bà Tịnh sống trong chờ đợi, niềm chờ đợi tuyệt vọng về tin tức của chồng và đứa con trai đầu lòng.
Các con bà Tịnh nay đã có gia đình. Bà Tịnh - người mẹ ngày xưa - nay là bà nội, bà ngoại của một đàn cháu đông đúc. Mỗi lần thắp nén hương trên bàn thờ chồng là mỗi lần bà thầm nghĩ: “Không biết anh chết ở đâu, xác bỏ nơi nào.”
Bà đâu có ngờ, chồng bà vẫn ở bên bà đấy thôi. “Anh nằm gần chị đây thôi, trên bãi biển Thuận An, cách nhà chỉ 15 cây số.”
Chỉ 15 cây số, nhưng bà không hề hay biết, trong quảng thời gian dài hơn nửa đời bà, 35 năm!
Một hôm, người em của chồng bà, là Ðinh Văn Xuyên, một cựu quân nhân thuộc Thiết Ðoàn 10 Kỵ Binh, hiện cư ngụ tại Texas, Hoa Kỳ, gọi về, loan tin rằng, qua báo chí, người ta tìm thấy dấu tích của ông Kiếm tại bãi biển Thuận An trong một lần bốc mộ, nhờ tấm thẻ bài mang tên người xấu số.
Di hài Thượng Sĩ Kiếm được dân làng An Dương cải táng vào trung tuần tháng 12 vừa rồi. Tin tức từ trong nước ra được hải ngoại, nay lại bay về quê hương. Hai vợ chồng “ở rất gần nhau,” mà tin lại loan đi hàng vạn dặm mới về đến người cô phụ.
Bà Tịnh, ngay lập tức, cùng các con và người em gái của ông Ðinh Văn Kiếm, đem lễ vật về lạy trước nấm mộ tập thể, trong đó có chồng mình, cha mình, anh mình.
Trong tấm mồ tập thể ấy, Thượng Sĩ Ðinh Văn Kiếm đã yên nghỉ cùng anh em đồng đội và đồng bào của ông trong những ngày cuối của cuộc chiến.
Gia đình ông Kiếm, gồm các em của ông, hiện đang sống tại hải ngoại, nói sẽ giúp phương tiện để đưa ông về nằm chung với phần mộ của gia đình. Còn tạm thời, ông vẫn nằm bên cạnh bạn bè, chiến hữu - những người đã 35 năm chung một nấm mồ xiêu lạc, oan khuất trên đường chạy loạn.


Cũng nhờ tên tuổi trên một chiếc thẻ bài còn lại, ông Trịnh Quốc Thuận, ở Maryland, Hoa Kỳ, nhận ra người bà con cô cậu ruột của mình, là ông Trần Văn Ðược, sinh năm 1954, thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Gia đình đã được báo tin ông Thuận bỏ mình tại bãi biển Thuận An hồi tháng 3, 1975, nhưng không tìm ra hài cốt. Chuyện kể rằng, hồi tháng 4, 1975, khi Sài Gòn chưa thất thủ, một chiến hữu cùng trung đội với ông, sống sót về được Sài Gòn, ghé qua, báo tin cho gia đình đồng đội, rằng ông Ðược đã chết trên bãi biển Thuận An. Trên đường rút lui, trước khi lên tàu, Trần Văn Ðược chết vì trúng mảnh đạn pháo kích của địch quân.
Anh Được có một người em song sinh hiệnsinh sống tại Sài Gòn. Gia đình thường gọi Được là Đen, và người em, Trần Tự Lập là Trắng. Năm 18 tuổi, anh Được tình nguyện vào binh chủng Thủy Quân Lục Chiến và thường xa nhà, nên gia đình không biết anh thuộc đơn vị nào, trú đóng ở đâu.
Song thân anh Trần Văn Được ngày nay đều đã không còn, ông bà, cũng như nhiều bậc cha mẹ khác trong chiến tranh, cho mãi đến khi nằm xuống, thương xót, nhưng không được biết một tí gì về tin tức, không tìm ra dấu vết những người con đã chết trong chiến trận.

Người lính Thủy Quân Lục Chiến Trần Văn Được ngã xuống lúc mới 21 tuổi, hãy còn quá trẻ, chưa hề lập gia đình.

Mong anh yên nghỉ. Đời người lính biển, tác chiến trên bộ, theo định mệnh đã chết trên một bãi biển, và giờ đây lại được chôn cất trên bãi biển, dưới những hàng dương mùa Đông gào khóc theo cơn gió giật. Nơi đây, mảnh đất miền Trung cằn cỗi mà anh đã đem hết đời lính để bảo vệ, giữ gìn, nay giữ lấy anh, đưa về cát bụi.

Tiếng sóng vỗ vào bờ cát mỗi đêm ngày đã ru anh, người lính trẻ xa nhà, ngủ giấc nghìn thu.


LTS: Ngày 27 tháng 11, 2010, Người Việt đưa tin người dân An Dương, Phú Vang, Huế cải táng ngôi mộ tập thể gồm 132 tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa, hy sinh cuối tháng 3, 1975, và được chôn ngay trên bãi biển này. Hôm nay, Người Việt giới thiệu phóng sự của phóng viên Liêu Thái, người đã đến thôn An Dương, trực tiếp gặp một trong những người đứng ra cải táng ngôi mộ tập thể này. Bài gồm 3 phần. Phần một bắt đầu hôm nay.
Biển xâm thực, “ăn” vào rất gần nơi mấy trăm người đã chết hồi tháng 3, 1975. Ðây cũng là địa điểm người dân An Dương tìm thấy, và cải táng, 132 tử sĩ VNCH, chết cách đây 35 năm. (Hình: Liêu Thái/Người Việt)

PHÚ VANG, HUẾ - Tôi gọi đó là cuộc “hành trình xương trắng” - cuộc hành trình dai dẳng trong cơn đau dai dẳng của thân phận người lính thất thủ, chậm chân và chìm vùi trong đất mẹ.
An Dương, đường tôi đi có khác với con đường các anh đi trong biến cố 26 tháng 3, 1975. Không có máu, lửa khói và sự hỗn loạn. Nhưng đường sao mà buồn, thật buồn!
*
Hai bên đường từ ngã ba Phú Bài (quốc lộ 1A - Phú Thuận, Phú Vang), nhìn đâu cũng thấy mộ địa. Có thể nói, chưa bao giờ tôi thấy mộ địa nhiều đến thế, mộ theo kiểu nhà Nguyễn với kiến trúc nhại Pagoda, đình làng, lăng tẩm, mộ theo kiểu sau 1975, “sè sè nấm đất bên đường.” Mộ và mộ!
Nhà ở chen chúc với mộ. Ði suốt đoạn đường 35km, đâu đâu cũng chẳng thấy gì khác ngoài vài con sông buồn buồn, vài con trâu thiu thiu gặm cỏ trong cái mênh mông của đồng chiêm tháng 10, vài mái nhà lưa thưa giữa đồng... Quạnh quẽ và cô tịch.
Cái tên xã Phú Thuận cũng rất xa lạ với người trong vùng, hỏi mãi mà không ai biết cho rành rõ, người thì chỉ lên núi, người lại chỉ xuống biển.
Cuối cùng, khi hỏi “thôn An Dương,” người ta bảo “chỉ có xã An Dương thôi,” làm gì có thôn An Dương nào, và cũng không có xã Phú Thuận nào cả.
Tôi đoán có lẽ thôn An Dương vốn là xã An Dương trước đây, có thể tôi đã đi đúng đường, vì dù gì trước khi đi tôi cũng đã vào Google Earch để xác định tọa độ, chính xác là hướng biển.
Hai ông bà Trần Ðăng Thiện, tại tư gia. (Hình: Liêu Thái/Người Việt)
Ðể yên tâm, lại hỏi thêm, ở Phú Vang có vùng nào tên An Dương nữa không: Có, đến hai thôn tên là An Dương, một hướng núi, một hướng biển. Hướng biển có xã An Dương từ trước năm 1975. Người chỉ đường khăng khăng đó là xã An Dương. Yên tâm rồi, câu chuyện tôi sắp viết, liên quan đến những bộ xương của người lính Việt Nam Cộng Hòa, nằm về phía biển.
*
Tôi đến An Dương vào lúc 3 giờ chiều. Lúc này nhìn ra Phá Tam Giang đã thấy thấp thoáng bóng chiều, ghe thuyền bắt đầu kéo về.
An Dương hẹp chư chiếc lá lúa nằm kẹp giữa phía Ðông là đồi cát, rừng dương, biển và phía Tây là Phá Tam Giang mênh mông.
Cũng không khác gì những nơi trên đường đi từ ngã ba Phú Bài xuống An Dương, nơi đây cũng toàn mộ là mộ, người sống chung với mộ. Mới thấy một rừng mộ, đi chưa hết mộ đã gặp mái nhà, gặp chợ, quán xá, gặp người.
Hình như là sống ở chốn cô tịch, u quạnh lâu năm, người An Dương cũng có gì đó khác người, nhìn họ vừa bí ẩn, trầm tĩnh, vừa có chút gì liêu trai, khó nói...


''Bãi biển An Dương, Phú Vang, Huế, trưa ngày 26 tháng 3, 1975: Những người lính từ Khe Sanh, Lao Bảo, Hướng Hóa chạy về Huế, rồi lại chạy ra bờ biển An Dương, đợi lên tàu. Một biển người, chen chúc. Lính miền Bắc lúc ấy đã “tiếp quản” địa phương, họ ngồi trên đồi thông cách chỗ những người lính lên tàu chừng 50m, ngồi và quan sát...''
Tôi hỏi quán cà phê DT, người đối diện hỏi lại: “Quán DT ở hẻm nào? Hẻm số mấy?” Bất ngờ! Chưa kịp hình dung là giữa một nơi thôn quê, vắng vẻ, nhà chẳng mấy cái mà người ta lại đánh hẻm. Hỏi kỹ mới hiểu: Người ta đánh số hẻm cho nhà người sống để phân biệt với số lô của mộ người chết.
Ðến lúc này, tôi rất muốn lấy số điện thoại của ông Thiện ra gọi để hỏi nhà mà tới một thể, khỏi mất công. Nhưng lại thôi, quyết định tự tìm đến nơi. Hỏi quán cà phê ông Thiện, người ta chỉ: “Hẻm 8, ngay đầu hẻm.”
Khi tôi đến nơi, đã có rất nhiều người xúm lại ở trước nhà ông. Tôi hơi bối rối không hiểu có chuyện gì đây. Mọi người ai cũng nhìn tôi và hỏi: “Ðúng chưa? Ðúng nhà này chưa, quán cà phê ông Thiện đây, làm chi mà có quán DT nào!”
Tôi gật đầu cám ơn, họ tản ra và đi hết. Hóa ra khi tôi lơ ngơ hỏi đường, mọi người để ý thấy tôi tìm lòng vòng nên chạy ra hỏi giúp. Có mấy người phụ nữ và một anh thanh niên chạy xe quanh xóm tìm giúp tôi.
Nhiệt tình và tốt bụng, đó là những gì tôi cảm nhận được trong giây phút đầu tiên ghé nhà ông Thiện. Cũng có thể là khác với những gì tôi nhìn thấy. Dầu gì đi nữa, tôi vẫn có quyền tin là người An Dương tốt bụng.
*
Vào quán cà phê, ngồi dăm phút, cô con gái ra mời tôi vào, ông Thiện đang ở trong nhà. Ðề phòng mọi việc có thể sai sót, tôi lấy máy điện thoại ra gọi vào số ông Thiện. Người ngoài quán “A lô,” người trong nhà cũng “a lô.” Vậy là đúng người rồi.
Ðường vào thôn An Dương: Nhà và mộ liền kề nhau, ven đồi cát. (Hình: Liêu Thái/Người Việt)
Ghi nhận trong lần đầu tiên tiếp xúc với ông Trần Ðăng Thiện là: Ông hơi e ngại, nhưng từ ánh mắt ông toát lên sức mạnh tự tại, cương trực và hòa ái.
Tôi tự giới thiệu, và nói về lý do tôi xin được gặp ông. Ông Thiện mời tôi uống trà, pha cho ly cà phê, bảo: “Cậu đi đường lạnh, trời lạnh, cậu uống chén trà, hút thuốc cho bớt lạnh đi rồi mình nói chuyện! À, mình đặt tên quán là DT, cái bảng rành rành vậy đó mà họ cứ gọi ‘quán ông Thiện’. Thôi kệ!”
Tôi cám ơn ông, rồi uống trà, nói chuyện đi đường, chuyện gặp trên đường từ Quảng Nam ra Huế, hỏi chuyện sinh hoạt chùa chiền, kinh sách... Tuyệt nhiên không nhắc đến chuyện tôi cần hỏi.
*
Tôi cố ý để ông tò mò và đợi lúc ông nổi hứng, tôi xoay sang chuyện bốc mộ, chuyện 132 bộ hài cốt trên bãi biển An Dương mà ông đã cùng với người dân ở đây di dời về nghĩa trang vào tháng 7 năm nay.
Ông có vẻ nghi ngại, ông hỏi tôi thật có phải là người như đã giới thiệu hay tôi là nhân viên an ninh nhà nước. Ông cũng nói thẳng: “Nếu cậu là nhân viên an ninh, điều tra gì đó thì cũng mong cậu thông cảm và không có gì để điều tra đâu. Tụi tui làm việc nghĩa, không có gì khác ngoài hai chữ ‘việc nghĩa’, mong cậu hiểu cho!”
Tôi trả lời ông: “Thưa bác, việc mà bác cùng các bác trong thôn An Dương làm là một nghĩa cử cao đẹp, nghĩa tử là nghĩa tận, nhưng ở đây, những người lính đã không may mắn có được cái nghĩa tận ấy suốt 35 năm nay. Và bây giờ, bác và các bác ở đây đã thực hiện nghĩa cử ấy. Ðó là công việc tâm linh. Không ai mà không nghiêng mình trước việc làm của các bác!”
Tôi ngừng một lúc, ông thoáng vui. Tôi nói tiếp: “Giả sử con hay ai đó là kẻ xấu, thì cũng không thể xấu với người đã khuất được! Và giả sử con hay ai đó ghét bác chẳng hạn, thì cũng không thể ghét nghĩa cử của bác được!”
Ðến đây, ông Thiện nhìn thẳng vào mắt tôi: “Cậu nói câu này làm tôi hơi lạnh người nè, tôi vốn là người tu hành tại gia lâu nay, tôi tin vào linh cảm của mình lắm, nãy giờ tôi thử cậu thôi, giờ nghe cậu nói vậy tôi tin và hiểu cậu rồi. Một trăm ba mươi hai (132) mộ cậu ạ, con số thật người chết lên xấp xỉ 500 người, tôi biết điều này. Nhưng con số còn lại, qui tập chỉ còn 132 thôi! Biển ăn hết rồi!”
Và, câu chuyện những đoàn quân chen chúc xuống tàu, những ngày tháng 4 đen, nỗi đau thất thủ ở Huế lại hiện về trong giọng nói đượm buồn của ông Thiện...



PHÚ VANG, Huế - Ông Trần Ðăng Thiện nói rằng mình sống hơn sáu mươi năm trên cuộc đời, trải không biết bao thăng trầm và chứng kiến bao điều dâu bể, ông nhận ra “cái màu của mặt đất này - màu quên lãng!”
Từ đụn cát này, người dân An Dương moi thêm mấy mét đất nữa, không tìm thêm được xác nào. (Hình: Liêu Thái/Người Việt)
“Ðó là buổi trưa ngày 26 tháng 3, 1975, những người lính từ Khe Sanh, Lao Bảo, Hướng Hóa-Quảng Trị chạy về Huế, rồi từ Huế họ lại chạy ra bờ biển An Dương để đợi lên tàu, một biển người, chen chúc, tàu thì ít, người thì nhiều. Rồi tiếng la khóc, kêu than của người bị thất lạc người thân, rồi tiếng súng. Và gần năm trăm xác người!” Ông Thiện hồi tưởng.
Ông Thiện bảo, nghe tiếng súng, nhưng không thể biết tiếng súng của ai, vì lúc ấy ông “đang ở Ðà Nẵng.” Ông không thể nói thêm gì hơn về tiếng súng.
Còn phía Bắc Việt? Vẫn theo ông Thiện, khi ấy “họ” đã về “tiếp quản.” Họ ngồi trên đồi thông cách chỗ những người lính lên tàu chừng 50m, ngồi và quan sát.
Không khí chiến tranh vẫn còn, khói lửa vẫn còn, nên họ không bao giờ ngồi quan sát mà không cầm súng.
“Họ cũng tốt lắm, có những người bị thương, họ mang về trạm xá cho nằm, nhưng nằm thôi, vì không có thuốc chữa trị, nên mươi ngày, nửa tháng nằm đó rồi hoại thư mà chết. Nhưng dù sao, họ cũng tốt, ít ra họ cũng cho nằm chết trong nhà...” Ông Thiện nói về những người lính Cộng Hòa bị thương trên bãi biển, được lính Bắc Việt mang vào trạm xá.
***
“Có người chết vì chen chúc, giẫm đạp lên nhau, có người chết vì trúng đạn. Lúc đó đếm gần 500 xác. Cả một bãi biển toàn thây người, một màu xanh áo lính và chết chóc... Bà con An Dương không ai rủ ai, cứ tự động mang xẻng, cuốc ra đào đất chôn họ. Hồi đó không có chi để làm hòm ngoài vài tấm chiếu, vài miếng bạt, vài tấm áo mưa! Không có gì hơn, buồn thật, điều này làm tui trăn trở suốt ba mươi mấy năm nay!” Ông Thiện kể, đôi mắt đượm buồn.
Ðường ra hố chôn tập thể. (Hình: Liêu Thái/Người Việt)
Tôi hỏi thêm về những người lính địa phương vào thời điểm ấy, ông Thiện nói rằng, họ vốn là dân địa phương, rành đường đi lối lại nên nghe có biến cố, thấy có hiện tượng “không bình thường,” họ tính đường ngồi yên trong nhà.
Ngày 26 tháng 3, 1975, nhìn thấy lính Bắc Việt kéo về, những người lính địa phương quân biết rằng không còn nước rút, vậy là họ giấu vũ khí, ném vũ khí xuống biển, ném tất cả tư trang của đời lính xuống biển, hoặc chôn sâu dưới cát và mặc đồ thường dân.



“Nói đã tìm ra hết các thi hài là nói cho yên tâm, nói cho nguôi ngoai thôi, chứ thực ra làm sao mà tìm hết được, bãi cát bao la, mênh mông, thời gian xóa nhòa mọi thứ vào lãng quên.” (Ông Trần Ðăng Thiện)

Họ, những người lính địa phương quân ngồi chờ phe đối phương đến bắt hoặc chạy vào Ðà Nẵng, Sài Gòn... Không còn nước cờ nào khác cho họ. Và lợi thế của lính địa phương nằm ở chỗ, họ nắm rõ địa hình, biết chỗ nào quân lính Bắc Việt đang chĩa súng, họ không đi vào đó. Và, tại An Dương, không có cái chết nào với lính địa phương, trong ngày này.
Những người lính từ Khe Sanh, Lao Bảo, Hướng Hóa-Quảng Trị (phần lớn từ miền Nam ra) thì chân ướt chân ráo, không rành địa hình, và hơn hết, họ vẫn mặc nguyên quân phục. Họ ngã xuống như một người lính, máu của họ thấm vào đất An Dương, hòa vào biển mặn.
An Dương ngày ấy, những ngày 26, 27, 28, 29, 30 tháng 3, 1975, đầy xác người và tử khí.
***
Một lần nữa, ông Thiện cố nhấn mạnh trong lúc nói chuyện, rằng ông “không có mặt ở Huế những ngày này,” và câu chuyện ông kể là câu chuyện ông “được nghe lại.”
Ông Trần Ðăng Thiện chỉ hố chôn lớn nhất, vẫn còn mấy trụ bê tông. (Hình: Liêu Thái/Người Việt)
Nhưng chuyện những bộ xương đồng đội cùng chiến tuyến, chuyện những cái chết, thì khẳng định mình nói không sai chi tiết nào. Và ông cũng nhấn mạnh, không biết mũi súng nào đã chĩa vào những người lính trên bãi biển.
Ông dự đoán, lúc đó, có thể do đông đúc, người ta chen lấn giẫm đạp lên nhau mà chết. Nhưng con số này rất thấp. Số còn lại bị bắn.
Ông cũng đưa thêm một dự đoán, rằng có thể người trên tàu và người dưới tàu bắn nhau vì người đi kẻ ở không đành.
Tôi hỏi ông hai chi tiết: Lúc ông vào Ðà Nẵng, ông ở đường nào? Và ông dựa trên cơ sở nào để đoán rằng những người lính bắn nhau? Ông Thiện lắc đầu, yêu cầu đừng hỏi những câu như thế này, khó cho ông.
Vốn là người có đời sống tâm linh, sau khi nói câu này, ông Thiện chắp tay, khấn: “Các anh linh lắm, các anh biết đúng sai, tôi không thể nói được gì, vì tôi đang còn sống, tôi cũng khổ lắm, mong các anh thông cảm!” Tôi im lặng, hiểu ra rằng ông Thiện cũng có nỗi khổ.
Nỗi khổ của một người không dám nhận mình biết điều gì, dù rằng đôi khi chính sự hiểu biết, chứng kiến của mình làm mình ray rức. Rồi ông “ký thác” nỗi ray rức vào câu kinh tiếng kệ mấy mươi năm nay, cũng là một cách tự xoa dịu vết thương lòng!
***
Ông Thiện nhìn ra cây dong đồng trước nhà. Cây dong to lớn, sum suê, nhìn như thể đã tới hàng trăm tuổi đời. Ông Thiện nói, cây này còn rất trẻ, 35 tuổi, nhưng “đất và người cũng như cây cối ở An Dương sớm trưởng thành, chóng lớn vì hấp thụ quá nhiều xác người.” Chung quanh nơi ông ở, toàn là mộ địa, toàn những xác của chiến tranh. Ông nói xong, lại niệm Phật.
Một ít vải bạt còn sót lại dưới đáy hố. (Hình: Liêu Thái/Người Việt)
Ðợi một chút mọi chuyện nguôi ngoai, tôi hỏi tiếp ông Thiện rằng liệu có thể còn xác nào sót lại trong quá trình đào tìm, và còn xác nào sót do bão cát, do xê dịch địa tầng...
Ông Thiện nói, trong lúc đào tìm, khi tìm đúng xác, người đào tiếp tục men theo xác bên cạnh, cứ như vậy mà men tìm. “Lúc chôn, người ta đào một cái hố sâu 5m, đáy bằng, rồi đặt các thi hài nằm liền kề nhau một dãy, rồi lấp cát.”
Khi đào tìm, đến xác cuối cùng của dãy thì đào thêm vài mét ra bên ngoài, không tìm thấy nữa nghĩa là hết rồi.
Trầm ngâm một lúc, ông lại nói: “Nói hết là nói cho yên tâm, nói cho nguôi ngoai thôi, chứ thực ra làm sao mà tìm hết được, bãi cát bao la, mênh mông, thời gian xóa nhòa mọi thứ vào lãng quên.”
Và ngay cả con người, qua thời gian, trí nhớ cũng phôi phai, dù trước đây mình từng cố nhớ!
Ông Thiện nói rằng, mỗi khi ra đứng trước biển, mỗi khi nhìn đồi dương, mỗi đêm nghe gió phi lao rì rào, ông nghe màu lãng quên thấm dần trong ông, thấm dần trong cuộc sống. Ông buồn, nhưng không thể làm gì được.
***
Chiều gần tàn, ông Thiện dắt tôi ra thăm bãi biển An Dương, thăm những mộ phần lẻ loi, thăm chốn cũ các anh nằm, thăm cái màu lãng quên đang xào xạc gió nơi đồi dương vắng lạnh.
“Các vị này linh thiêng lắm! Rồi anh sẽ thấy.” Ông Thiện nói trên đường đi.

PHÚ VANG, Huế - Sau một hồi nói chuyện, tôi cùng ông Trần Ðăng Thiện đi ra đồi dương, nơi có nấm mồ tập thể của các tử sĩ VNCH.

Một chút ấm áp cho người đã khuất. Người đứng vái là ông Trần Ðăng Thiện. (Hình: Liêu Thái/Người Việt)
Từ nhà ông, đi tiếp hai hẻm, đến hẻm 05, băng qua một dãy nhà, rồi trường học, rồi một sân chơi, chúng tôi đi tiếp vài trăm mét đường bê tông. Bỏ xe bên cạnh đường. Ông Thiện dắt tôi băng qua rừng dương.
Chiều xuống thấp, tiếng gió rì rào thổi vào phi lao nghe như những oan hồn đang thì thầm trò chuyện. Một câu chuyện oan khiên, đến bất tận.
Băng thêm độ 300 mét, ông Thiện dừng lại, chắp tay vái bốn hướng, rồi vái một chiếc hố sâu, rộng chừng 3m, dài độ 20m.
Ông nói: “Ðây là một trong ba hầm đã chôn các tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa.”
Bốn góc hố là bốn thanh bê tông, ông Thiện giải thích, bốn thanh này được đúc, chôn sâu dưới lòng cát và nhô cao 1,5m.
“Chôn sâu là đề phòng sóng cuốn, và nhô cao là phòng bão cát lấp mất dấu.”
Ngoài ra, người dân An Dương còn đánh dấu thêm bằng cách trồng mấy bụi dứa dại xung quanh, đề phòng chuyện cát lấp mất trụ bê tông.
Hỏi hố này chôn bao nhiêu xác, ông nói không thể nhớ cụ thể, vì lúc đào, ông lo phần việc cúng vái, cầu nguyện siêu thăng bạt độ cho hương linh. Thi thoảng, ông nhắc nhở mọi người cố gắng tìm thật kỹ.
Nhưng ông cũng khẳng định, mỗi hố phải trên 30 xác người. Có thể hố rộng nhất này chứa đến 50 xác.
Tôi đưa máy bấm vài kiểu hình.
***
Vài phút sau, ông Thiện vái ba lần và dắt tôi sang một hố khác. Hố này nằm cách mép sóng xâm thực chừng 10m.
Bên cạnh miệng hố còn tấm bia để dòng chữ: “Mộ cô hồn vô danh. Vô danh hiển hách chi viên...” Mấy chữ còn lại bị nhòa, không thể đọc được.
Ông Thiện lại vái lạy tấm bia.
Tôi đưa máy hình lên chụp. Lạ thật, máy chụp hình “mất nguồn” ngay tức khắc.
Chưa bao giờ tôi bị trường hợp này. Luôn luôn, trước khi làm việc, tôi “sạc” đầy pin và kiểm tra rất kỹ.
Ðứng tần ngần vài phút, lại mở máy, chụp nữa. Vẫn như lúc nãy, máy bị đứt nguồn ngay tức khắc.
Tôi làm lại ba lần như thế, mọi chuyện vẫn như cũ. Tôi bắt đầu thấy lạnh người. Một phần, trời đã sang chạng vạng, một phần gió thổi rì rào. Tôi thật sự ớn lạnh!
Tôi vái tấm bia. Và kể thật với ông Thiện, nhờ ông khấn, xin cho tôi chụp hình.
Ông Thiện chắp tay khấn: “Thưa các hương linh, thưa những người lính năm cũ, chú này đi làm công việc của chú, chú này muốn đưa hình nơi ở của các hương linh lên báo, để thế giới nhìn thấy và biết rằng có những người lính nằm lại nơi này. Xin các hương linh hoan hỉ cho chú này chụp mấy tấm hình!”
Ông Thiện khấn xong, tôi vái lạy, bắt đầu chụp hình, chụp liên tiếp mấy tấm hình. Không có chuyện gì xảy ra.
Bên cạnh tấm bia còn một tấm bạt xanh rách nát, ông Thiện nói rằng đây là tấm bạt đã nằm cùng các tử sĩ mấy mươi năm nay. Tôi đưa máy chụp. Không được! Lại khấn xin, cũng không được. Cứ mỗi lần quay ống kính vào tấm vải bạt, thì máy chụp hình lại tắt nguồn.

Ai đó trong làng vừa đến viếng và đặt hoa nơi ngôi mộ cải táng của các tử sĩ. (Hình: Liêu Thái/Người Việt)
Tôi nghĩ, chắc vong linh các tử sĩ không muốn thế giới nhìn thấy sự lạnh lẽo quá mức của mình như vậy. Tôi vái lạy, rồi rút ra đứng sau lưng ông Thiện. Ông vái lạy tấm vải bạt một lần nữa rồi ra dấu tôi đi theo ông.
Ông Thiện im lặng, đi đến một hố khác, cũng sâu và rộng tương đương với hố thứ nhì. Dưới hố còn sót lại mấy chiếc quách.
Hố nằm sát bên mép biển xâm thực. Ông Thiện đoán rằng, nếu không di dời, trong mùa sóng năm nay, tất cả sẽ bị cuốn ra biển.
***
Trước khi vái chào tạm biệt các hố chôn tập thể, ông Thiện không quên chỉ cho tôi biết vị trí của bờ biển cách đây 35 năm. Nó cách xa vị trí bây giờ chừng 500m. Và ông chỉ cho tôi vị trí con tàu mắc cạn ngày đó, mới trục đi vài năm trước.
Ông cũng nói thêm, có rất nhiều xác đã trôi ra biển, trên các thi hài ấy, có thể có cả thẻ bài. Những xác này được chôn trong vườn hoặc nghĩa trang của người dân An Dương.
Tôi nhờ ông dắt tôi thăm những ngôi mộ ông mới nói. Ông Thiện lắc đầu: “Bác không thể dắt cháu đi được đâu, vì lúc ấy, người dân thấy xác nằm la liệt, rồi lại chôn tập thể, tội nghiệp quá, nên có người mang trộm xác về chôn trong vườn hoặc ngoài nghĩa trang dòng tộc. Khắc bia theo tên họ dòng tộc. Giờ biết đâu mà lần!”
Tôi hỏi ông có thể đoán vì sao họ lại khai tên họ người lính xa lạ theo dòng tộc? Ông Thiện trả lời: “Có lẽ hương linh ấy phò hộ cho họ mần ăn tốt nên họ làm vậy!” Ông nói, mắt nhìn xa xăm.
Tôi đoán rằng, người đàn ông tốt bụng này đã dối mình vì một lý do tế nhị khác. Thời đó, ngay cả việc thi đại học của con em nhà lính Việt Nam Cộng Hòa, cầm cái lý lịch lên nộp, không những bị loại mà còn có thể nhận vài câu răn đe, mắng nhiếc.
Cái thời như vậy, dù có tốt bụng và dũng cảm cỡ nào, thì việc để người khác biết mình đang chôn một xác lính “phe bên kia,” trong vườn, trong nghĩa trang dòng tộc chả khác nào tự châm lửa đốt nhà!
***
Ông Thiện lại im lặng dắt tôi đi theo ông sang khu mộ mới qui tập. Ông khấn vái trước nhà bia rồi giới thiệu cho tôi biết ở đây còn có một mộ mới chôn của một thường dân trôi dạt vào biển trong đợt lũ lụt vừa rồi. Ngôi mộ ấy nằm riêng bên ngoài khu mộ các tử sĩ VNCH.
Và còn có thêm một ngôi mộ của một người phụ nữ. Người này cũng mang tấm bia Vô Danh trên mộ phần. Và ngôi mộ cũng nằm riêng phía bên ngoài khu mộ của các chiến sĩ.
Tôi và ông Thiện vái lạy những ngôi mộ, tôi chụp hình ông đứng cạnh những ngôi mộ chiến sĩ.
Tôi lại hỏi, lúc bốc mộ có còn áo quần, vải vóc nào cho thấy là xác của các tử sĩ? Ông bảo lúc chôn ở hố tập thể thì còn nguyên vẹn.
***
Ðứng một lúc lâu, rồi ông Thiện lấy chai dầu gió ra xức, ông đưa tôi cùng xức. Hai người ra về.
Ông Thiện dắt tôi ra đường và nói: “Linh lắm cháu à! Mà nói ra bác cũng mang ơn những người bên nước ngoài, như chú Võ Văn Thanh, Hồ Văn Sa, Trần Văn Kỳ, cô Thuận và nhiều người khác đã vận động, quyên góp rồi gửi tiền về. Ðược tổng cộng $8,000. Và 28 triệu đồng của dân An Dương góp lại. Rồi công của các anh em như Ngô Ðức Ðáo, Hồ Văn Có, Nguyễn Văn Ngần, Phạm Thiên và bà con trong làng đã góp công, góp của, đưa các anh về đây! Thật là quí hóa! Khi công việc mỹ mãn, còn dư lại một phần.”
Ông nói rằng, cho đến bây giờ, ông vẫn không thể nghĩ ra vì sao lại mất thẻ bài nhiều đến thế, chỉ còn lại 12 hài cốt có thẻ bài. Có hai mộ đã được đưa về quê ở Kiên Giang và Hậu Giang, còn một mộ khác đã được người thân đến nhận, nhưng lại muốn gửi lại nơi này để anh cùng ở chung với đồng đội cho ấm áp... Vài năm sau họ sẽ đưa về.
Tôi hỏi trước khi tạm biệt: “Chính quyền địa phương có ý kiến gì khi mình di dời mộ không?”
Ông Thiện trả lời: “Ồ, có chứ cháu, họ nói rằng cố gắng mà làm, họ ủng hộ tinh thần cho, họ nói rằng sống là kẻ thù, nhưng chết rồi thì đều là bạn! Cứ làm đi! Ủng hộ vậy đó cháu, chứ không có tiền bạc gì đâu, họ cho mình dời là tốt lắm rồi!”
Tôi lại hỏi thêm về những chi tiết bốc mộ, như dấu vết trên hài cốt, hộp sọ, hài cốt được đặt nằm như thế nào, liệu với chiều dài chừng 20m, đặt đến trên 30 xác người có quá chật và nằm chồng lên nhau không?
Ông Thiện lắc đầu, nói tôi thôi, đừng hỏi thêm gì nữa, ông “khó nói lắm.”
Và ông nhắc tôi khi viết bài, nhớ viết làm sao cho ông đừng bị khó, ông được sống an lành. Ông đã tu hành hơn 30 năm nay. Ông chỉ mong được làm việc thiện, không mong gì hơn, ông già rồi, ngại gặp rắc rối cho mình và cho mọi người lắm.
Tôi hứa với ông là sẽ không viết những gì có thể gây khó khăn cho ông và mọi người. Ông gật đầu, nhìn tôi, yên tâm.





NGƯỜI LÍNH ẤY CỦA TÔI…

                   
Tôi quen anh năm 17 tuổi, khi còn cắp sách đến trường.  Lúc ấy anh là sinh viên sĩ quan năm thứ ba, hai mươi tuổi đời, nhưng dạo đó trong mắt tôi anh thật chững chạc, lại tài hoa, và cũng không thiếu… si mê. 
Anh nhất định đòi cưới tôi ngay sau khi ra trường, nói rằng Thầy Mẹ anh sẽ ưng ý, không thể phản đối.  Tôi hình như có hơi ngạc nhiên và hơi… sợ sợ, vì tuổi 18, 19 thời đó còn nhỏ lắm, chẳng biết gì, chỉ biết rằng tôi hình như  cũng… yêu anh nhiều lắm. Tôi còn nhớ, tuy còn nhỏ và ngây thơ lắm, nhưng những ngày giữa năm thứ tư của anh, từng đêm tôi đã thổn thức một mình. 
Cảm giác lúc ấy là chỉ sợ mất anh vào nơi gió cát mịt mù mà biết bao người trai đã ra đi không hẹn ngày về. Và tôi nhất quyết lấy anh, tuy anh làm phiền lòng Ba Má tôi không ít, khi anh dứt khoát từ chối mọi công lao chạy chọt của song thân tôi ngay từ truớc ngày anh tốt nghiệp.  Anh gần nổi giận cả với tôi, anh nhất định đi Nhảy Dù.  Bao nhiêu giòng nước mắt cũng không cản được con người ấy.  Gia đình tôi ngần ngại, nhưng tôi là con gái út, được cưng nhất nhà, vả lại cả nhà ai cũng quý mến anh…
Thế là tôi rời ghế nhà trường năm 19 tuổi, lên xe hoa mà tưởng như đang trong giấc mộng tình yêu thời con gái.  Rồi thì giã từ quê huơng Đà lạt yêu dấu, giã từ những kỷ niệm yêu đương trên từng con dốc, từng vạt nắng xuyên cành trong hơi lạnh thân quen, từng hơi thở thì thầm trong ngàn thông thương mến, tôi theo anh về làm dâu gia đình chồng ở Sài Gòn.  Tôi chưa hề được chuẩn bị để làm dâu, làm vợ, đầy sợ hãi trong giang sơn nhà chồng, còn chưa biết ứng xử ra sao, nhưng được cha mẹ và các em chồng hết lòng thương mến. Các chú em chồng nho nhã luôn luôn hoan hô những món ăn tôi nấu nướng.
Tuần trăng mật thật vội vã nhưng vô cùng hạnh phúc, chỉ vỏn vẹn trong thời gian anh nghỉ phép ra trường, rồi trình diện đơn vị mới, Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù ở Tam Hiệp.  Mùng sáu tết Tân Hợi 1971, Sư đòan Dù của anh đi mặt trận Hạ Lào.  Hôm ra đi anh vui tưng bừng như con sáo sổ lồng, trong khi tôi thẫn thờ…  Anh siết tôi thật chặt, không cho tôi khóc, nói rằng ra đi trong giòng nước mắt vợ hiền là điều xui rủi. 
Tôi vội vã gượng cười, để rồi từng đêm thổn thức một mình trong căn phòng lạnh vắng, run rẩy lắng nghe từng tin chiến sự miền xa. ..  Thư anh từ mặt trận toàn những điều thương nhớ ngâp tràn, pha lẫn những lời như những tràng cười say sưa của người tráng sĩ  đang tung mình trên lưng ngựa chiến.  Mẹ chồng tôi chẳng vui gì hơn tôi.  Hai mẹ con buôn bán xong thường đi lễ chùa, khấn nguyện.  Bà cụ bảo tôi “phải khấn cho nó bị thương nhẹ để mà về, chứ vô sự thì lại không được về, vẫn còn bị nguy hiểm”… Tôi càng hoang mang, thảng thốt, quỳ mãi trong khói hương với đầy nước mắt, chẵng khấn được câu nào…  Má tôi trên Đà lạt cũng vội lặn lội lên tận cốc xa, thỉnh cho được tượng ảnh Bồ Tát Quán thế Am để chồng tôi về sẽ đeo vào cổ.
Sau trận đầu tiên ở Hạ Lào anh trở về với cánh tay trái treo trước ngực.  Tôi run run dội nước tắm cho anh để nước khỏi vào vết thương, mà không dấu được nụ cười đầy sung sướng, pha lẫn… đắc thắng, cảm ơn Trời Phật linh thiêng… 
Rồi anh lại ra đi.  Tây Ninh, Cam Bốt, cùng những địa danh trong các giòng tin chiến sự mà tôi thuộc nằm lòng.  Trảng Bàng, Trảng Lớn, Suông, Chúp, Krek, Đam Be…  Anh đi toàn những trận ác liệt một mất một còn với quân thù quái ác.  Vừa lành vết thương là lại ra đi.  Tôi thành người chinh phụ, thao thức từng đêm, vùi đầu vào gối khóc mùi trong lời khấn nguyện Phật Trời che chở cho sinh mạng chồng tôi.  Còn anh, anh cứ đi đi về về trong tiếng cười vui sang sảng, hệt như các bạn chiến đấu trong cùng đơn vị, mà nay tôi vẫn còn nhớ tên gần đủ: các anh Tường, Hương, Trung, Dũng, Sinh, Chiêu, anh Sĩ, anh Tâm, anh Quyền…. 
Mỗi lần trở về bình an là một lần cả nhà mở hội, và mỗi khi nhận lệnh đi hành quân là một lần tôi thờ thẫn u sầu trong lúc anh hăng hái huýt gió vang vang khúc hát lên đường.  Con người ấy không biết sợ hãi là gì, không cần sống chết ra sao, và không hề muốn nghe lời than vãn, chỉ thích nụ cười và những lời thương yêu chiều chuộng.  Anh nói không biết tại sao anh có niềm tin kỳ lạ là không có việc hiểm nguy nào hại đựơc thân anh.  Tôi chỉ còn biết chiều theo ý chồng, không bao giờ dám hé môi làm anh buồn bực, vì thời gian gần nhau quá ngắn ngủi, tôi chỉ lo chiều chuộng và đem lại cho anh những phút giây hạnh phúc hiếm hoi của người lính chiến, không muốn để anh bận lòng vì những nỗi lo âu.  Lấy chồng hơn hai năm sau mà tôi vẫn chưa có cháu, vì anh cứ đi, đi mãi đi hoài, những ngày gần nhau không có mấy. 
Rồi mùa hè đỏ lửa nổ ra lúc Tiểu Đoàn 5 Dù đang đóng quân ở vườn Tao Đàn.  Anh nhảy vào An Lộc, lăn lóc đánh dập đánh vùi với địch quân đông gấp bội trong gần ba tháng trời, mất cả liên lạc bưu chính, ở nhà không hề nhận một chữ một lời.  Người  hạ sĩ quan hậu cứ mỗi tháng ghé lại gia đình thăm hỏi đều phải vẫy tay tươi cười ngay từ đầu ngõ.  Anh về được đúng một tuần, thì lại lên đường đi Quảng Trị. ..  Rồi anh lại bị thương ở cửa ngõ Cổ thành, trở về trong phòng hồi sinh Tổng y viên Cộng Hòa.  Trên đướng tới bệnh viện cùng với gia đình, tôi ngất xỉu trên xe của người anh chồng…
Nhưng rồi anh vẫn đứng dậy, lại khoan khoái cất bước hành quân.  Ôi, không biết tôi mang nợ anh từ tận tiền kiếp xa xôi nào, mà tôi yêu thương đến thế cái con người dường như chỉ biết miệt mài say mê chiến trận.  Tôi chỉ biết ước nguyện của anh là trở thành một tướng Patton của Việt Nam, “…Rồi nước mình sẽ phải tự chủ hơn lên, mấy năm nữa phải khác hẳn đi chứ.  Nền nếp quân đội sẽ phải thay đổi. Anh muốn làm iư lệnh đại đơn vị, để anh điều động liên quân chủng, cả thiết giáp, máy bay, đánh giặc như Patton cho mà coi. Cam bốt, Hạ Lào Trung Thượng Lào ăn nhằm gì… Hà hà”  Tôi chỉ ậm ừ vì chẳng hiểu gì, khi anh thì thầm bên tai tôi vào một đêm tôi dần thiếp đi trong đôi cánh của hạnh phúc, một lần anh về phép hành quân…
Sinh cháu gái đầu lòng năm 1973 ở Đà Lạt, anh về thăm mẹ con tôi và trường cũ, xong lại bay đi trấn thủ đường ranh giới ngưng chiến ở vùng Tây Nam Huế. ..  
Tháng tư năm 1975, đơn vị anh đóng quân ở Thủ Đức, chuẩn bị tử chiến với quân thù.  Chú em chồng là sĩ quan chuyên vận tàu HQ505.   Tàu ghé Sài Gòn để chuẩn bị  đi công tác Phú Quốc.  Chồng tôi bảo cả gia đình, gồm Thầy Mẹ, các chú và cả mẹ con tôi, xuống tàu đi Phú Quốc lánh nạn chiến sự, rồi khi yên sẽ lại trở về.  Tôi tưởng anh cũng định ra đi, nhưng anh quắc mắt nói tại sao anh lại phải bỏ đi  lúc quân lính của anh vẫn còn chưa nao núng, “bọn nó làm gì thắng nổi khi cả Sư Đoàn Dù đầy đủ bung ra phản công, cho nó ăn một cái Mậu thân nữa thì mới hết chiến tranh, quân Dù đánh giặc một chấp bốn là thường, còn trận cuối này là xong.…”  Anh hăng say như sắp xung trận, nhưng rồi anh quay lưng lại, run giọng bảo tôi hãy bế con theo xe của ông anh ra bến tàu.  Đến nước đó tôi không còn gì sợ hãi, ôm con nhảy xuống, nhất định đòi ở lại.  Vợ chồng sống chêt có nhau... 
Ba lần toan vượt thoát từ đầu đến giữa tháng 5 đều thất bại não nề.  Anh lên đường đi trại tập trung vào tháng 6, khi tôi đang mang bầu cháu thứ nhì…  Bé Dung ưỡn người đòi theo bố.  Anh quay lại, vẫy tay cười với mẹ con tôi.  Vẫn nụ cười ấy, anh vẫn chẳng nệ âu lo sống chết là gì, nhưng còn mẹ con em, anh ơi??? …
Gia đình nhà chồng tôi thiệt có phước, hầu hết đã theo tàu 505 đi Phú Quốc rồi sang Mỹ, kể từ hôm tôi ôm con ở lại với chồng.  Gia đình tôi từ Đà lạt chạy về Sài Gòn, sống chen chúc quây quần đùm bọc lẫn nhau.  Hàng quán của gia đình chồng tôi bị tịch biên hết.  Tôi nhất định giữ chặt ngôi nhà của cha mẹ chồng để lại, đuổi mấy cũng không đi.   Chị ruột tôi bỏ dấn vốn ra mua được ngôi nhà khác, vì ông chồng ôm vợ bé chạy mất, nhà cửa xe cộ bị tịch biên hết.    Tôi và các anh chị em tôi chạy vạy đủ điều để lo sinh kế, nuôi con thơ cha già mẹ yếu.  Chồng tôi mịt mù tăm tích, chỉ có đôi ba lá thư  viết về từ trại Long Giao.  Lên Long Giao cũng không gặp được, rồi anh bị đưa ra Bắc. 
Năm đó tôi tròn 25 tuổi, dung nhan tuy tiều tụy nhưng vẫn khiến nhiều kẻ phải suýt soa dòm ngó.  Biết bao người mai mối thì thầm bên tai tôi, thôi hãy lo cuộc đời mới, sĩ quan ngụy đi Bắc chẳng có ngày về...  Bao nhiêu nỗi khổ đau dồn nén đôt nhiên bùng phát.  Tôi vùng lên như một con cọp cái:  bác thử nghĩ coi cả bọn cả lũ tụi nó đó có đáng xách dép cho chồng tôi không!!!  Rồi ba mẹ con tôi ôm nhau khóc vùi trong tủi hận.
Không, không, một  ngàn vạn lần không.  Quanh tôi chỉ còn toàn rác rưởi.  Toàn bọn cán ngố từ Bắc vào và từ trong khu ra, và không kể các bậc trưởng thượng cùng anh em chiến sĩ miền Nam đang khổ sở, thì đàn ông ở miền Nam khi ấy cũng chỉ còn bọn người không đủ điều kiện để phải đi tù cải tạo, dù chỉ có ba ngày.
Vâng, những người đàn ông ở miền Nam mà đang đi tù Cộng Sản mới là những người xứng đáng với đàn bà con gái miền Nam ở lứa tuổi tôi.  Chị em chúng tôi gọi đó là “tấm bằng tù cải tạo” của các ông để chọn gửi cuộc đời, dù là trao gửi vào một nơi bất định….  Còn gì nữa mà chọn lựa!  Thà vậy, đành thôi.   Tôi đã là vợ anh, tôi vẫn tôn thờ anh trong tim óc, làm sao khỏi lợm giọng trước bọn người lường lọc, bướm ong, hèn hạ bợ đỡ kẻ thù, thấp kém từ kiến thức đến tư cách. 
Chị em tôi buôn bán từ thuốc lá đến bánh cuốn, bánh ướt, bánh mì, thuốc tây, thuốc nam, kiêm luôn cắt chải gội uốn tóc, làm móng tay …  nhưng luôn tránh chỗ công quyền và nơi phồn hoa nhan nhản những con mắt hau háu của bọn cướp nước và bọn trở cờ.   Mấy anh chị em tôi đồng lòng, đùm bọc lẫn nhau, nên áo rách nhưng một tấm lòng son tôi vẫn vẹn với câu thề…
Vượt qua được thời gian khó khăn cực khổ nhất lúc ban đầu, sau ba mẹ con tôi được gia đình chồng từ Mỹ chu cấp, tuy không dư dả nhưng cũng đủ gửi quà ba tháng một lần, rồi lại dành dụm cho môt chuyến thăm nuôi….
Anh từ miền cực bắc bị đưa về Thanh Hóa chừng một năm, thì tôi xin được  giấy phép đi thăm nuôi.  Tôi và chị tôi chạy đôn chạy đáo mua đủ một trăm năm chục ký quà để tôi đem ra Bắc cho chồng.  Bà cụ buôn bán quen ngoài chợ lại nhờ đem thêm năm chục ký thăm dùm con trai, vì con dâu cụ đã vượt biên.  Cháu Dung đã lên 6, em Long nó 4 tuổi và chưa lần nào thấy được mặt cha.  Tôi đem cả hai con đi cho anh gặp đứa con trai.
Xuống ga Thanh Hóa, cả đoàn quân khuân vác vây quanh gọi mời giục giã.  Tôi và mấy chị cùng thăm chồng chia nhau giữ chặt hàng hóa không cho ai khiêng vác, rồi tự mình kéo lê kéo lết đi thuê nhà trọ.  Không cho khiêng bọn chúng trở mặt chửi liền.  Có người đã đi về kể rằng cứ sơ ý là bọn dân này vác hàng chạy mất.  Chúng tôi cũng phải chia nhau ở lại nhà trọ coi chừng hàng và đi chợ.  Tôi nhờ một chị mua thêm được ký mỡ, về rang tóp mỡ ngoài sân nhà trọ. Nghe con khóc, tôi vội vã chạy vô nhà.  Chưa kịp dỗ con thì nghe tiếng ồn ào.  Quay ra, hai kẻ cắp đã bưng chảo tóp mỡ ù té chạy, chị bạn rượt theo không kịp.  Tôi khóc thầm tiêc hoài, cứ nghĩ những tóp mỡ kia đáng lẽ đã giúp chồng mình đỡ bao đói khát.
Xe đò đi Thanh Cẩm chật ních những bà thăm chồng.  Chúng tôi năm  người lớn và hai cháu xuống ngã ba Nam Phát để vô Trại 5.  Tôi lê từng bao hàng rồi lại quay lui kéo lê bao khác, chừng hơn nửa cây số mới đến trạm xét giấy tờ vào trại, hai cháu còn quá nhỏ chẳng muốn chúng đụng tay .  Cô Út thiệt giỏi, xong phần mình lại xông xáo giúp hết người nọ tới người kia. 
Xong giấy tờ, chờ một lát thì một người tù hình sự đánh xe trâu đến.  Hàng hóa và hai con tôi được lên xe trâu, tôi và chị Phước, chị Điệp cùng hai mẹ con cô Út lẽo đẽo theo sau.  Đường đi xuyên trại xuyên rừng dài tám cây số.  Chúng tôi chưa biết lúc trở ra mới càng thê thảm. 
Chân tay rã rời, tới chiều tối mới thấy cổng trại 5 Lam Sơn.  Đêm xuống bé Dung còn phải phụ tôi gom lá mía cho tôi vội nấu hết gạo thành cơm, nắm lại từng vắt, vì nghe nói công an không cho tù chính trị đem gạo sống vô, sợ các anh âm mưu trốn trại.  Đêm chờ sáng để thăm chồng, nhìn hai con thơ ngây ngủ say sưa vì mỏi mệt, tôi rời rã vô cùng nhưng không sao ngủ được.  Hằng trăm hình ảnh chồng tôi nhảy múa trong đầu… Chồng của tôi, người lính dù hăng hái húyt sáo mỗi khi nhận lệnh hành quân ấy, nay đã ra sao??? 
Sáng, đến lượt ra nhà thăm nuôi ngong ngóng chờ chồng, tôi không được phép ra khỏi cửa căn buồng nhỏ xíu, kê một bàn gỗ dài và hai ghế băng dọc hai bên.  Đột nhiên một ông lạ hoắc đứng lù lù ngay cửa.  Tôi ngỡ ngàng chưa biết điều gì.  Cô nữ công an  nhìn chòng chọc, hằn học, đợi chờ như con gà đá sắp tung đòn. Tôi không thể hiểu người con gái Bắc cỡ cùng tuổi tôi kia thù hằn tôi điều gì.  Tôi ngó lại, lát sau cô ta coi sổ xong, mới nói đây là anh Đức mà bà cụ nhờ tôi đi thăm dùm.  Mất nửa tiếng giao quà và kể chuyện gia đình cho anh Đức nghe, tôi được biết chỉ còn một tiếng rưỡi gặp chồng.  Thế là tôi bắt đầu ôm mặt khóc, càng lúc càng nức nở vì tủi cực, không thể nào cầm được. 
Trên thế giới này có ai phải lặn lội hằng ngàn cây số để chỉ được gặp chồng có một giờ ba mưới phút không hả Trời?!! 
Hai cô công an lớn tiếng dọa dẫm, những là phải động viên học tập tốt, không lau sạch nước mắt thì không cho ra thăm…  Nhưng kìa, ai như chồng tôi vừa bước ra khỏi cổng trại.  Tôi không còn nhớ quy định luật lệ gì nữa, vùng đứng dậy chạy nhào ra như một tia chớp.  Hai đứa nhỏ vừa khóc vừa chạy theo. Hai công an nữ bị bất ngờ không cản kịp, đứng nhìn.
Tôi chạy tới ôm anh, và càng khóc dữ, đôi chân khụyu xuống, không còn sức lực.  Trời ơi, chồng tôi ốm yếu đến nỗi tôi ôm không trọn một vòng tay.  Người anh nhỏ thó hẳn lại, chỉ có đôi mắt sáng với tia nhìn ngay thẳng là vẫn hệt như ngày nào, nhưng nay đượm nét u buồn khiên tôi đứt ruột.   Anh vẫn không nói được lời nào, chỉ bặm môi nhìn tôi nhìn con thăm thẳm.  Tôi biết anh đang cố trấn tĩnh, vì không muốn rơi nước mắt trước mặt bọn công an.  
Anh dìu tôi và dắt con trở vào nhà thăm nuôi.  Anh nắm chặt tay tôi, đưa vào chiếc ghế băng.  Cô công an lạnh lùng chỉ anh bước sang chiếc ghế đối diện, rồi ngồi sừng sững ở đầu bàn, cứ chăm chăm nhìn vào sát tận mặt tôi.  Anh khuyên tôi ở nhà ráng nuôi dạy con cho giỏi.  Rồi thật nghiêm trang, anh bảo tôi phải đưa con đi vùng kinh tế mới, về tỉnh Mỹ Tho chỗ bác Chánh với chú Cương và cô Huyền đã xung phong đi khai khẩn rồi, đang chờ vợ chồng mình lên lao động sản xuất.  
Tôi hơi sững sờ, rồi chợt hiểu, đang khóc lại suýt bật cười hân hoan, khi thấy nét khôi hài tinh anh của chồng tôi vẫn còn nguyên vẹn.  Bác Chánh là tên gọi của Thầy mẹ chúng tôi, chú Cương và cô Huyền chính là chú Cường, chú em chồng đã đưa cả nhà xuống tàu HQ 505 đi lánh nạn. 
Cô công an có vẻ rất đắc ý, nhắc tôi:
-   Chị phải nói gì động viên anh ý đi chứ. 
Anh nhìn mắt tôi, cười thành tiếng.  Tôi chợt cười, nhưng lại chợt giận hờn.  Tôi cúi mặt giận dỗi:
-   Em không đi đâu hết, em chờ anh về đã rồi muốn đi đâu cũng được …
Tôi lại khóc, hai tay nắm chặt tay anh, chỉ sợ phải xa rời.  Cô công an cứ quay nhìn hết người nọ đến người kia, lên tiếng: 
-   Chị này hay nhỉ!  Phải đi kinh tế mới, lao đông tốt thì anh ấy mới chóng được khoan hồng chứ!     Trại giáo dục anh ý tiến bộ thế đấy, còn chị thì cứ…. Chỉ được cái khóc là giỏi thôi!!
Anh không nhịn được, lại cười khanh khách và nói: 
-   Đó em thấy chưa, cán bộ ở đây ai cũng sáng suốt như vậy hết, em phải nghe anh mới được…  Em cứ thấy anh bây giờ thì biết chính sách Nhà nước ra sao, cũng đừng lo gì hết, ráng nuôi dạy con cho nên người đàng hoàng đừng học theo cái xấu, nghe…
Tôi dở khóc dở cười, chỉ nắm chặt tay anh mà tấm tức, dỗi hờn.  Anh gọi hai con chạy sang ngồi hai bên lòng.  Cô nữ công an do dự, rồi để yên, lại tiếp tục nhìn sững vào mặt tôi.  Anh ôm hôn hai cháu, nói chuyện với hai cháu.  Đôi mắt chúng tôi chẳng nỡ rời nhau.  Mắt tôi nhòa lệ mà vẫn đọc được trong mắt anh những lời buồn thương da diết.  Tội nghiệp hai con tôi đâu biết chỉ được gần cha trong giây lát nữa thôi. 
Tôi như một cái máy, vừa khóc vừa lay lay bàn tay anh, nhắc đi nhắc lại, em sẽ đợi anh về, anh đừng lo nghĩ gì nghe, em sẽ đợi anh về, em nhất định đợi anh mà.. anh về rồi mình cùng đi kinh tế mới… anh ráng giữ gìn sức khỏe cho em và con nghe… Em thề em sẽ đợi anh về….  Em không sao đâu… Anh đừng lo nghĩ, cứ yên tâm giữ gìn sức khỏe nghe, em thề mà, anh nghe…
Tôi chợt thấy chồng tôi nhòa nuớc mắt.  Cô công an lúng túng đứng dậy, bỏ ra ngoài nhưng lại trở vào ngay, gõ bàn ra hiệu cho người ở ngoài.  Người nữ công an kia chẳng biết núp  ở đâu, lập tức xuất hiện, báo hết giờ thăm…  Vợ chồng tôi lại ôm chặt nhau ở đầu bàn bên kia ngay trước cửa phòng, bất chấp tiếng gõ bàn thúc giục.   Anh nắm chặt hai bàn tay tôi, chỉ nói được một câu: Anh sẽ về đưa em và con đi, không thể quá lâu đâu, đừng lo nghe, cám ơn em … đã quyết đợi anh về… Rồi anh nghẹn ngào…  
Tôi bị ngăn lại ngay cửa nhà thăm nuôi, cháu Dung chạy đại theo cha, cu Bi nhút nhát đứng ôm chân mẹ cùng khóc .  Tôi ôm cây cột gỗ nhìn dáng anh chậm chạp buớc tới hai cánh cổng gỗ to sầm, mà không thể nào ngưng tiếng khóc.  Anh ngoái đầu nhìn lại hoài, bước chân lảo đảo, chiếc xe cút kít một bánh mấy lần chao nghiêng vì hàng quá nặng… 
Sáng hôm sau tôi như người mất hồn.  Các chị bạn cũng chẳng hơn gì .  Mây chị em  và bà bác dắt díu nhau ra, mới biết không được về lối cũ, mà phải đi vòng bên ngoài trại cả gần hai chục cây số nữa để trở lại chỗ ngã ba Nam Phát.   
Đường xuyên rừng, rồi lại ra đồng trống, nắng hanh chang chang như muốn quật ngã ba mẹ con tôi.  Cu Bi mệt lắm, có lúc ngồi bệt xuống, áo quần mồ hôi ướt nhẹp.  Tôi phải đứng giữa nắng đem thân mình che nắng cho hai con, dỗ dành chúng, rồi lại bế cu Bi, lầm lũi bước thấp bước cao.  Bà bác và hai chị cùng cô Út cứ phải đi chậm lại chờ mẹ con tôi.  Bao nhiêu cơm gạo đã giao cho chồng hết, chúng tôi không còn gì ăn uống.  Dọc dường mua được mấy cây mía, tôi róc cho các con ăn cho đỡ đói.  Hai đứa không khóc lóc một lời. Bé Dung thiệt ngoan, luôn miệng dỗ em cố gắng.  Bụng đói, chân mỏi rã rời trong lúc chiều cứ xuống dần. 
Đám người lang thang trong những cánh rừng tre nứa âm u, trên miền đất không một chút tình thương.  Ai cũng lo sợ, dớn dác nhìn trước ngó sau, tự nhiên túm tụm lại mà đi, càng mệt lại càng như muốn chạy.  Tôi bế cu Bi, mỏi tay quá lại xoay ra cõng cháu, vừa mệt vừa đói vừa sợ, lếch thếch vừa đi vừa chạy, không biết sẽ ngã gục lúc nào.  Cháu Bi nhìn thấy mẹ mệt quá, đòi tuột xuống, rồi lại hăng hái tiến bước.  May sao, đến hơn 6 giờ chiều, trời gần tối hẳn, thì trở lại được ngã ba Nam Phát.  Hai công an dắt xe ra đạp về nhà, dặn chúng tôi ở đó đón xe đò ra Thanh hóa. 
Đám người ngồi bệt xuống bên đường.  Lâu lắm mới có một xe chất đầy người chạy qua, nhưng đều chạy thẳng, không ngừng.  Đã hơn chín giờ đêm.  Dáng cô Út  cao mảnh rắn chắc đứng vẫy xe in lên nền trời đêm đầy sao như một pho tượng thần Vệ Nữ.  Một xe lớn có hai bộ đội chở đầy tre nứa, từ xa chiếu đèn pha sáng lòa trên dáng người con gái đảm đang ấy, từ từ dừng lại.  Chúng tôi xúm lại hứa trả thật nhiều tiền, rồi bà bác cùng hai con tôi được lên ngồi ca bin, còn tôi với hai chị và cô Út đẩy kéo nhau leo lên ngồi nghiêng ngả trên tre nứa, tay bám, chân đạp chặt vô thành xe, qua năm tiếng đồng hồ trên con đường đất dằn xóc kinh hồn, nhiều lần tưởng đã văng xuống đất.    Ra đến Thanh hóa là hai giờ sáng.  Các chị đi thăm chồng xuống tàu đêm thật đông, thăm hỏi tíu tít, trả lời không kịp.  Khi ấy sao mà chị em chúng tôi thương nhau quá sức. 
Vé về Nam không có, phải mua vé ra Hà Nội rồi mới đi ngược trở về.  Đêm hôm sau mới đến ga Hàng Cỏ, mấy bà con ra đường đang ngơ ngác thì  các chị đằng xa đã đôn đáo vẫy chào, kéo chúng tôi tới chỗ… lề đường, đầy những chiếu với tấm ni lông, nơi tạm trú mà các bà “vợ tù cải tạo” gọi là… Hotel California.  Vâng, chúng tôi nghiễm nhiên nhận chồng chúng tôi là “các ông cải tạo” như người miền Nam vẫn kêu với tấm tình trân quý, để phân biệt với những người tù hình sự.  Cho nên danh từ thường đi theo với ý nghĩa nào mà người ta hiểu với nhau, không còn giữ được nguyên cái nghĩa mà nó được đặt cho vì mục đích chính trị xâu xa. 
Ngủ lề đường nhưng chẳng ai thấy khổ, vì gần nhau thấy ấm hẳn tình người đồng cảnh.  Các chị em thì thầm trò chuyện suốt đêm, kẻ thì khóc rấm rứt, người lại cười khúc khích.  Tôi vừa ôm con ngủ gật vừa quạt muỗi cho hai cháu, hình ảnh chồng tôi quay cuồng mãi trong đầu, khi anh nói, khi anh cười, lúc anh đầy nước mắt…  Sau những nguồn cơn cực nhọc và xúc động mạnh này, về nhà tôi bị thương hàn nhập lý, rụng hết mái tóc dài, gần trọc cả đầu, tôi đã trối trăn cho bà chị nuôi dạy hai cháu, tưởng không còn được thấy mặt chồng tôi lần nữa…
…Chín năm sau, đúng ngày giỗ đầu Ba tôi, anh đột ngột bước vô nhà.  Tôi suýt té xỉu vì vui mừng, cứ ôm chặt anh mà.. khóc ngất.  Anh cười sang sảng: 
-   Cái chị này chỉ được cái khóc là giỏi thôi, phải động viên cho chồng đi sang Mỹ đi chứ …  Hà hà..
Các chị em tôi từ Đà Lạt tất bật xuống thăm.  Vừa xong ngày đám giỗ thì cả nhà đã vui như hội.  Tất nhiên tôi là người mừng vui nhất….   
Hạnh phúc đã trở về trong vòng tay tôi.  Tôi sẽ ôm thật chặt lấy nguồn hạnh phúc này, không bao giờ để cho đi đâu xa mất nữa…

MINH HÒA (Virginia)





Thursday, December 9, 2010

Về Nam

 Tất cả chúng tôi đều rất tỉnh táo khi đoàn tầu vượt qua cầu Hiền Lương, chiếc cầu đã đi vào lịch sử Việt Nam trong giai đoạn đau thương của đất nước. Bờ Nam trải ra trước mắt, những nét quen thuộc vẫn còn đó.
Nó khác hẳn với phía bên bờ Bắc. Những con đường nhựa rộng hơn, phẳng hơn. Mái nhà bằng tôn thay vì bằng lá. Ðồng ruộng, cây cỏ hình như xanh hơn. Ðó là những nhận xét ồn ào đầy chủ quan của anh em chúng tôi. Thật ra thì cũng đúng. Bởi lẽ ở miền Bắc, sau những năm trong các trại tù, nhiều lần chúng tôi được chuyển trại đi qua các khu dân cư đều thấy cảnh vật làng quê miền Bắc vẫn như hồi trước năm 1954. Có thay đổi chăng là từng cụm nhà gạch ở đầu mỗi làng. Ðó là cơ quan nhà nước hay hợp tác xã hoặc là nhà ở của chủ tịch xã. Dân chúng vẫn ở trong những nếp nhà tranh mục nát bao nhiêu đời nay. Có những căn nhà, ruộng lúa lấn vào đến tận thềm. Một cái nhìn thoáng cũng đủ thấy cảnh khốn cùng của dân quê miền Bắc sau bao nhiêu năm được hưởng một chế độ “ưu việt.”
Tôi đưa tầm mắt đi xa. Ðồng ruộng miền đất lửa trước đây bây giờ loáng thoáng xanh tốt. Dân chúng lưu lạc về thành phố tránh chiến tranh nay có thể đã lục tục trở về cày cấy mảnh đất khu vườn của ông cha để lại. Bỗng trong tim tôi chợt nhói lên. Tôi định thần và cố điều chỉnh tia nhìn cho thật rõ lại. Cả một mái nhà tôn phía xa là lá cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ đã nhạt mầu. Tôi ra dấu cho các bạn tù ngồi gần thì chợt nhận ra tất cả chúng tôi đều đã thấy.
Lá cờ được sơn trên mái vào những tháng ngày cuộc chiến Quốc Cộng tranh vùng xôi đậu. Ðến nay, sau bao nhiêu mưa nắng nó vẫn còn, mặc dầu nó đã bị nhạt mầu. Lá cờ cũ trên nóc nhà dân trên bờ Nam sông Bến Hải, đối với chúng tôi, như một thách thức âm thầm, bền bỉ với kẻ thù và đồng thời nó cũng là niềm khích động hăng say mới cho tâm hồn chúng tôi. Người bạn đồng tù lẩm nhẩm bài Quốc Ca, rồi anh cười nói:
- Vẫn còn nhớ đủ, cậu ạ.
Nhìn lại được mầu cờ, nghe lại được bản quốc ca, thân thể tôi như tê dại vì xúc động. Ôi trước đây có bao giờ đứng nghiêm trang trong các buổi lễ chào cờ, tôi lại có được những xúc động tột cùng như thế này. Bây giờ, trong một cách thế không nghiêm trang tí nào vì phải nửa nằm nửa ngồi để có được thoải mái với người cùng cùm, tôi lại thấy tất cả những thiêng liêng sâu sắc ẩn tàng trong lá cờ và trong âm thanh quốc ca. Tôi vội cố ngồi nghiêm chỉnh. Người bạn cùng cùm khẽ rên:
-Cậu ngồi cao quá, kéo cánh tay tôi đau ghê.
-Ồ, xin lỗi. Cậu cũng ngồi cao lên đi.
-Ngồi không có chỗ tựa, mỏi lắm.
-Chúng mình xoay lưng vào nhau vậy.
Bên ngoài khung cửa tầu, chiều xuống rất mau. Nắng hoàng hôn dọi chiếu trên mái nhà có sơn cờ lấp loáng, lấp loáng rồi vụt mất hẳn. Tầu đi thật chậm nhưng cảm giác của tôi lại thấy tầu đi quá nhanh.
Ðêm xuống. Ðoàn tầu như chui vào bóng đêm và chúng tôi bắt đầu tìm giấc ngủ để sáng mai này được nhìn tiếp các thành phố ruộng đồng miền Nam yêu dấu mà chúng tôi đã không bảo vệ được.
Tầu đỗ lại ga Huế lúc năm giờ sáng. Trời đất còn tối om. Khí lạnh của những ngày cuối năm còn cùng với sương muối bao phủ thành phố. Không khí xao động trong nhà ga gợi cho tôi cái cảm giác của những chuyến đi công tác ra Trung ngày nào. Trong sân ga, một vài người thờ ơ nhìn đoàn tầu đến. Họ không nhìn thấy gì đâu vì khoảng cách khá xa, vả lại họ còn đang nôn nóng bên những đống hàng chồng chất. Kẻ buôn xuôi, người bán ngược cò con trên những chuyến tầu Bắc-Nam chắc hẳn còn đang lo lắng trong những khó khăn của cuộc sống. Có ai còn nhớ đến có hàng trăm ngàn người đi tù cải tạo trên khắp đất nước và giờ đây đang phiêu linh trong chuyến tầu gần họ này không. Bỗng nhiên tôi cảm thấy chúng tôi xa cách họ quá. Những người dân cùng khổ, lam lũ kia như là những người của thế giới khác.
Tầu lại đi, bỏ qua tất cả những ga nhỏ. Chúng tôi đang tiến sâu vào đất miền Nam. Ga tới sẽ là Ðà Nẵng. Với tốc độ này của tầu thì cũng phải 2, 3 giờ chiều mới tới. Anh em đã bắt đầu mệt nhọc trở lại. Nhiều người lại ngủ như mặc cho cuộc thế xoay vần.
Bỗng ở lối đi thông từ toa cán bộ, năm thanh niên trai gái xuất hiện. Họ ăn mặc sạch sẽ, nét mặt vui tươi, sáng sủa. Từng người một, họ len lách qua toa tầu của chúng tôi. Một cô gái nói:
-Chào các chú, các bác.
Anh em vội vã lấy lại tư thế, mỉm cười đáp lại. Chúng tôi đã nhìn được rõ trên ve áo của họ là dấu hiệu nhân viên Hỏa Xa. Một giọng của cô gái miền Nam cất lên:
-Các chú, các bác có cần nước uống không?
Một vài người lấy bi đông ra đưa cho cô gái nhân viên Hỏa Xa. Số bi đông bỗng chốc dội lên khiến 5 thanh niên cầm không hết. Họ lúng túng. Một cô ghé tai tôi nói nhỏ:
-Chú có gửi gì không. Cứ để trong các gạt tàn thuốc.
Tôi ngó nhìn cô gái. Mặt cô lạnh lùng, nghiêm chỉnh thu gom lại các bi đông. Tôi vội nhìn ra phía cửa toa tầu. Hai tên quản giáo đứng đó tự bao giờ đang theo dõi hành động của 5 nhân viên hỏa xa này. Chúng tôi vội nói to:
-Cảm ơn các cháu đã cho nước.
Một tên quản giáo nói:
-Các đồng chí hỏa xa khẩn trương lên. Lát nữa các đồng chí cứ để nước ở đầu toa là được rồi.
Không có ai trả lời. Hình như giữa nhân viên Hỏa Xa với bọn công an không khí cũng không hòa hợp tí nào.
Chúng tôi loan báo cho nhau tin tức để chuyển các thư vào những nơi mà 5 thanh niên nhân viên hỏa xa đã khéo léo dặn dò. Một tin lan nhanh: “Cô gái đi đầu là cháu họ của một người trong anh em chúng tôi.” Thế là chúng tôi chủ quan ngay: “Gặp phe ta rồi.”
Tuy vậy chúng tôi vẫn đề cao cảnh giác. Rất ít người gài thư vào nơi gạt tàn thuốc mà đợi đưa tận tay hoặc tìm cách ném ra ngoài mỗi khi tầu đi qua các thị trấn.
Thời gian qua thật nhanh. Nắng bên khung cửa tầu đã đổ chếch. Có lẽ đã hơn hai giờ chiều rồi mà đoàn tầu vẫn còn lang bang trên các cánh đồng vắng lặng. Các cô bé nhân viên hỏa xa vẫn đi lên đi xuống, từng chặp. Và mỗi lần đi như vậy, các cô lại thu được một ít “tin nhạn” của anh em chúng tôi. Bọn quản giáo lúc đầu còn theo dõi, sau chúng cũng mặc. Thế là một số câu chuyện giữa chúng tôi với “dân chúng” được diễn ra vụng trộm:
-Các cháu phải hết sức cẩn thận đấy.
-Nhớ gửi giúp cho chú.
-Các chú cứ yên tâm. Nhân dân miền Nam vẫn là của các chú. Chuyến trước, tụi cháu tới thành phố Saigon là chia nhau đi suốt đêm để chuyển thư cho các chú, không sót một cái nào đâu.
-Tụi công an không có quyền khám tụi cháu ở trên tầu.
Những câu nói ngắt quãng, âm thầm như không nói với ai, nhưng lại cả một tâm tình trao gửi cho nhau.
Thấp thoáng có tên cán bộ ở cửa toa. Cô gái nhân viên hỏa xa nói lớn:
-Xin các chú, các bác lưu ý, đừng xả rác trên tầu. Hãy bảo quản tốt tài sản Xã Hội Chủ Nghĩa.
Rồi cô đi săm soi sửa lại các cánh cửa sổ và luôn miệng ra lệnh cho các bạn chia nhau đi kiểm tra vệ sinh trên tầu.
Lúc này, tất cả anh em chúng tôi đều như được bơm một luồng sinh khí mới. Bao nhiêu năm thiếu vắng những tiếng nói chân tình. Bao nhiêu năm bị đối xử như không phải là người. Bao nhiêu năm chỉ thấy những ánh mắt thù nghịch. Bao nhiêu năm chỉ thấy những đe dọa, sỉ nhục. Nay, được nghe những lời nói êm đềm và được biết “Nhân dân miền Nam vẫn là của các chú” thì chúng tôi lại như cây khô được tưới nước. Anh em âm thầm nhìn nhau sung sướng. Nhưng nỗi sung sướng ấy không tột cùng được bởi ai nấy đều nghĩ đến cái trách nhiệm chung là đã để đất nước rơi vào tay cộng sản. Bao nhiêu năm trong tù, biết bao nhiêu lần anh em chúng tôi bàn về cái thế nước mất và thường đi đến kết luận đổ cho thời thế mà ít khi nhận lấy trách nhiệm. Nhưng bây giờ được nghe lớp con cháu nói, mới thấy tất cả những ăn năn, những xấu hổ. Chúng tôi chỉ còn biết nhìn nhau tìm thông cảm.
Ðoàn tầu chậm hẳn lại. Nhiều cán bộ quản giáo và vệ binh xuất hiện ở hai đầu toa tầu. Mặt chúng nghiêm trọng. Chúng nói lớn:
-Các anh kéo hết cửa xe lên.
Rồi chúng chia nhau đi soát lại từng cửa sổ một. Những tiếng lộp bộp xa xa bắt đầu nổi lên. Lại thêm một số cán bộ nữa ùa vào toa chúng tôi. Một tên vệ binh chắc chỉ độ 18 tuổi, mặt non choẹt, chửi tục:
-Ð. mẹ chúng nó ném đá lên đầy toa mình ngồi.
Tên quản giáo vội quát lớn:
-Ðồng chí Tèo im miệng đi. Ðồng chí ra ngoài làm phận sự.
Rồi hắn giải thích với chúng tôi:
-Các anh thấy đó, nhân dân còn giận dữ với các anh. Nếu nhà nước mà cho các anh về sớm, nhân dân cũng không tha cho các anh đâu.
Chúng tôi không thể tin được là bên ngoài nhân dân đang ném đá vào đoàn tầu. Có thể đã tới ga Ðà Nẵng rồi. Ðây là miền Nam. Ðây là nhân dân, bà con của chúng tôi. Không lẽ... Chuyện ném đá chỉ xẩy ra khi chúng tôi được đưa ra miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa. Trong những dịp chúng tôi tiếp xúc trộm sau đó mới được biết rằng bọn cộng sản đã xúi giục nhân dân thù hận chúng tôi và chính chúng với bọn có mồi đã ném đá lên các đoàn xe chở tù chứ nhân dân thì chẳng có ai nỡ cầm hòn đá mà ném chúng tôi cả. Có điều họ rất giận chúng tôi là thay vì phải Giải Phóng Miền Bắc thì lại để cho chúng nó chiếm mất miền Nam làm nhân dân miền Bắc mất luôn cả hy vọng.
Tầu đã vào ga Ðà Nẵng. Tiếng huyên náo lớn và rõ trên sân ga. Bọn cán bộ gọi nhau:
-Các đồng chí xuống hết cả dưới sân.
Tôi tìm cách hé cánh gỗ che cửa sổ. Một quang cảnh thật xúc động. Tôi vội ra dấu cho anh em. Nhiều người cũng hé cửa ra nhìn. Quang cảnh làm anh em chúng tôi đứng cả dậy.
Tên vệ binh còn sót lại, giữ nhiệm vụ canh gác vội quát to:
-Các anh trật tự. Anh nào lộn xộn tôi bắn.
Nhưng tất cả đều đã dồn về các khung cửa sổ. Các cánh cửa gỗ đã kéo lên hết. Sân ga đông đặc người. Ðàn bà, trẻ em, ông bà già... Những bạn hàng, người buôn thúng, kẻ bán bưng... Họ đang vẫy tay reo hò chào, gọi chúng tôi. Bọn công an trên tầu cũng như dưới đất đang phối hợp nhau làm một hàng rào cản không cho dân chúng đến gần toa tầu chở tù. Nhưng dân chúng đông quá, họ đã tràn vào đến sát toa tầu của chúng tôi. Anh em giơ cả tay lên chào đón họ. Những cổ tay xích xiềng được in trên các khung kính. Tôi thấy rõ nhiều bà, nhiều cô kéo vội vạt áo lên lau mắt. Có tiếng nói lớn từ đám đông:
-Tàn nhẫn quá. Cùm người ta như thế kia à!
-Bỏ cùm ra đi! Bỏ cùm ra đi!
Ðám đông nhốn nháo nhìn cả về phía toa xe chở cán bộ. Phía đó, mưa đá đang lao vào làm bể một số cửa kính. Bọn công an đổ xô về phía đám thanh niên đang ném đá. Bắt bớ và giằng co diễn ra. Chúng tôi lo ngại cho phía ngoài, chờ đợi tiếng súng nổ.
Phía này, dân chúng nhao lên:
-Mở hết cửa toa đi các anh.
Như được tiếp sức, chúng tôi mở cao hết các cánh cửa sổ toa tầu. Tên vệ binh thét lên:
-Các anh đóng ngay cửa lại. Họ ném đá vào đó.
Vừa lúc đó, rào rào các thứ được tung qua cửa sổ. Chúng tôi nhận ra ngay. Không phải là đá. Ðó là bánh mì, bánh chưng, giò chả, nước ngọt, thuốc lá Bastos xanh, kẹo, bánh, chuối, dứa, ôi, không còn thiếu một thứ thức ăn nào mà chúng ta thường thấy bán rong trên các chuyến tầu hỏa hay trên các chuyến xe ca. Bên ngoài, dân chúng đang bị bọn công an dồn ra xa nhưng dân chúng thì không ngớt la hét:
-Các anh nói là nhân đạo, nhân đạo. Sao cấm chúng tôi tiếp tế cho tù.
Vẫn có tiếng nói vọng lên toa chúng tôi:
-Các bác, các chú ăn đi mà giữ sức khỏe. Của nhân dân tặng đó.
Ðám đông bị dồn ra xa. Chợt ngay dưới chân cửa sổ tôi ngồi, một em bé khoảng 9, 10 tuổi đen đúa, ăn mặc rách rưới cố đưa cao gói ni lông mà tôi thấy thoáng trong đó có gói thuốc Bastos xanh và một phong kẹo lạc. Em nói to:
-Cầm đi chú.
Tôi bảo:
-Thôi, các chú có đủ rồi.
-Chú lấy đi. Cháu cho đó. Không bán đâu.
Té ra là cậu bé bán dạo trên sân ga mỗi khi có đoàn tầu đến. Tôi vội lục lấy tờ 5 đồng đưa cho cậu bé.Cậu bé lắc đầu vừa lúc một tên công an chạy đến tóm lấy gáy cậu. Cậu chống cự lại và nhìn chúng tôi bật khóc. Cậu cố tung gói quà lên phía tôi, nhưng gói quà lại rớt xuống đất và cậu bị tên công an lôi đi xềnh xệch.
Tôi rũ người xuống trong toa tầu không còn để ý đến bọn công an đang ùa lên, giẫm đạp lên chúng tôi để kéo hết các cánh cửa sổ xuống.
Rồi Quảng Ngãi. Qui Nhơn. Nha Trang. Phú Yên... Ga nào cũng cảnh ấy diễn ra. Càng về sâu miền Nam, dân chúng đứng đón chúng tôi càng nhiều hơn. Các nhà ga đã được lệnh không cho dân chúng vào và bọn công an địa phương cũng đã vây kín sân ga.
Trong khi đó thì dân chúng lại tập trung đông đặc tại các ngã tư đường nơi tầu chạy qua trong thành phố. Bánh kẹo, thuốc lá, nước uống được dân chúng quăng lên đầy xe. Mối tình nhân dân đối với chúng tôi thật quá đậm đà, sâu sắc càng khiến chúng tôi sầu khổ, tự trách mình.
Chúng tôi biết rõ, những tháng ngày còn tiếp tục tù đầy ở miền Nam sẽ là những tháng ngày để chúng tôi ôn lại những cảnh này và sẽ cùng nhau chịu đựng những vò xé trong tâm tư. Chắc chắn sẽ còn rất ít ai lẩn trốn trách nhiệm, đổ cho thời thế làm nước mất nhà tan nữa.
Tháng Tư, 1993
Nguyên Huy